Tự động gia hạn cư trú đến 30/4 cho người có hạn từ nay đến 29/4

Do lo ngại về vấn đề lây nhiễm virus corona nên người nước ngoài sắp hết hạn cư trú (ngày hết hạn trong khoảng ngày 22/02 đến 29/04) sẽ được tự động gia hạn đến ngày 30/04/2020.

Ai có thời hạn như trên thì vô ngay Hikorea để kiểm tra hạn mới nhé. Không biết thì đọc hướng dẫn ở đây: Hướng dẫn kiểm tra thời hạn cư trú tại Hàn Quốc

Lưu ý : Bạn của admin có hạn E-7 là 20/04/2020 vừa kiểm tra vẫn còn nguyên hạn cũ. Vì vậy, các bạn phải kiểm tra cho chắc là mình đã được tự động gia hạn đến 30/04 chứ không phải thành lưu trú không hợp lệ là sẽ bị hạn chế đổi visa về sau.

AI KHÔNG ĐƯỢC ÁP DỤNG:

  • Visa E-9 và E-10.
  • Dĩ nhiên các visa ngắn hạn như C3 hay multi các kiểu thì không. Cái bày chỉ dành cho người có CMT.
  • Ai đã nộp hồ sơ gia hạn rồi thì không tính nhé.

LƯU Ý MỘT SỐ THỜI HẠN TỐI ĐA

  • Có nghĩa là được tự động gia hạn đến 30/4 nhưng những TH visa vượt số ngày được lưu trú tối đa thì chỉ được tối đa của loại visa đó nhé.
  • E-62: tối đa 2 năm kể lần nhập cảnh gần nhất.
  • F-1-5: Tối đa 4 năm 10 tháng kể lần nhập cảnh gần nhất.
  • F-1-11 và H-2 (VN mình ko có): Tối đa 4 năm 10 tháng kể lần nhập cảnh gần nhất.

HIỂU CHO ĐÚNG LÀ NHƯ VẦY NÈ

  1. Không có gì là thiệt hại ở đây mà lo xa
  2. XNC chỉ sợ bà con thăm đông quá lại lây bệnh, nên tự động gia hạn cho tức là được lời ấy.
  3. Ai mà hạn sau ngày 29/04 thì cứ gia hạn như thường.
  4. Ai mà hạn từ nay đến trc đó thì lời, coi như thêm đc hown 2 tháng.
  5. Ai mà cần làm gì gấp như về VN vào đầu tháng 5 thì nên hỏi XNC có thể gia hạn sớm không để còn có CMT mà giải quyết việc của mình
Văn bản gốc đăng tải trên HiKorea

Cập nhật tỉnh Gyeongbuk về dịch corona19

Cập nhật của chính quyền Gyeongbuk thì tính đến 11h20 ngày 25/2 đã có 249 ca nhiễm. Tăng 17 ca so với lúc 8h sáng.

Tính đến 8h sáng ngày 25/02/2020, cả tỉnh Gyeongbuk có 232 bệnh nhân xác nhận nhiễm virus Corona chủng mới trong đó 225 người đang cách ly # 격리중 và 7 người đã tử vong # 사망자 .

* Bệnh viện Daenam ở huyện Cheongdo #청도대남병원 확진자 : 111 ca
* Liên quan đến nhà thờ Tân Thiên Địa #신천지대구교회: 52 ca
* Truyền đạo #순례자: 28 ca
* Diện khác: 41 ca

Tính đến 8h sáng ngày 24/02/2020, cả tỉnh Gyeongbuk có 186 bệnh nhân xác nhận nhiễm virus Corona chủng mới trong đó 181 người đang cách ly # 격리중 và 5 người đã tử vong # 사망자 .

  • 청도대남병원 확진자 111명
  • 신천지대구교회관련 32명
  • 순례자 27명
  • 기타 16명

Thành phố Yongin có bệnh nhân Corona đầu tiên

THÔNG TIN CƠ BẢN

Tuổi: 27 tuổi
Nơi cư trú: 수지구 풍덕천동
Nơi làm việc: 용인시 기흥구 보정동
Hiện đã được chuyển lên 경기의료원 수원병원.

Hàn Quốc Ngày Nay cập nhật thông tin liên tục tại website hanquocngaynay.info/corona, fanpage http://facebook.com/hanquocngaynay.info và nhóm http://facebook.com/groups/hanquocngaynay

24/1 đến có đến Daegu #대구, sau đó bị sốt và ở nhà đến hết ngày 27/1. Sau khi hết sốt thì đi làm lại từ ngày 28/1 ở 용인시 기흥구 보정동.

Sau đó, vào ngày 22/2, A được báo là có liên quan đến bệnh nhân số 31 và nhà thờ 신천지 대구교회. Kết quả là A dương tính với virus Corona chủng mới Covid-19.

6h50 chiều 23/02/2020, thành phố Yongin đã đóng cửa nơi A làm việc lúc và thông báo rằng sau khi công việc kiểm dịch hoàn thành tất cả nhân viên đều tự cách ly.

Hai xe xe buýt làng #마을버스 số 58-2 và 11 mà A đã từng đi cũng được khử trùng, tài xế xe buýt bị cách ly.

TỔNG HỢP TÌNH HÌNH VIRUS CORONA TẠI GYEONGGI-DO

Từ vựng tiếng Hàn mùa Corona

200 từ vựng phòng chống Corona #covid19 bao gồm bệnh lý, phòng chống, triệu chứng, cơ quan y tế …

1. 공공장소 소독, 환기 및 체온 측정 Khử trùng, thông gió và đo nhiệt độ cơ thể địa điểm công cộng

2. 1단계 중대 공중보건 비상사태 발령 Tuyên bố về tình trạng y tế khẩn cấp giai đoạn 1

3. 2019-nCoV

4. 2주간 의학적 관찰 Quan sát y tế trong 2 tuần

5. 2주동안 격리 Cách ly trong hai tuần

6. 2차 감염 사례(환자) Bệnh nhân/ trường hợp lây nhiễm lần 2

7. N95 마스크 Khẩu trang loại N 95

8. 가슴 답답함 Tức ngực

9. 가축시장 Chợ gia cầm

10. 감기와비슷한 경증 Triệu chứng nhẹ giống như cảm

11. 감염병 예방 Phòng chống lây nhiễm

12. 감염성 쇼크 Sốc do lây nhiễm

13. 감염증의 증상 Triệu chứng lây nhiểm

14. 개학 연기 Hoãn thời gian đi học

15. 건강상태질문서 Bảng điều tra tình trạng sức khỏe

16. 건강진단검사/건강선별검사 Kiểm tra sức khỏe

17. 검역소 Trung tâm kiểm dịch

18. 검체 Thử mẫu

19. 격리시키다 Cho cách ly

20. 격리치료 Điều trị cách ly

21. 결막염 Viêm kết mạc

22. 계보건기구 Tổ chức y tế thế giới

23. 고열 Sốt cao

24. 고혈압 Cao huyết áp

25. 공중보건 비상사태 Tình tạng y tế khẩn cấp

26. 공항검역 Kiểm dịch ở sân bay

27. 관광지 폐쇄 Đóng cửa nơi tham quan du lịch

28. 국가위생건강위원회(NHS) Ủy ban sức khỏe vệ sinh quốc gia

29. 국내 연구진 Đội ngũ nghiên cứu trong nước

30. 국내 환자 Bệnh nhân trong nước

31. 국외 유입 환자 Bệnh nhân từ nước ngoài đến

32. 국제보건규약(IHR)/국제보건규칙(IHR) Qui tắc y tế thế giới

33. 국제비상사태’ 선포 Tuêyn bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu

34. 국제적 공중보건 비상사태 Tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu (PHEIC)

35. 근육통 Đau cơ bắp

36. 급증하다 Tăng đột biến

37. 급성호흡곤란증후군 Hội chứng khó thở cấp tính (ARDS)

38. 기침 Ho

39. 기침할 땐 옷소매로 입을 가리다 Dùng tay che khi ho

40. 능동감시 해제 Dỡ bỏ theo dõi/ giám sát

41. 단체 모임이나 행사 취소 Hủy các chương trình lễ hội hoặc tập trung đông người

42. 당뇨병 Bệnh tiểu đườg

43. 도시 봉쇄 Phong tỏa thành phố

44. 두통 Đau đầu

45. 마른기침 Ho khan

46. 마스크 Khẩu trang

47. 마스크 착용 Đeo mặt nạ

48. 마스크를 착용하다 Đeo khẩu trang

49. 만성질환 Bệnh mãn tính

50. 매점매석 Găm hàng hóa

51. 무기력 Mệt mỏi

52. 무기력증/피로감 Trạng thái mỏi mệt

53. 무증상 감염 Lây nhiễm mà không có triệu chứng gì

54. 무증상 잠복기 Thời kỳ ủ bệnh không triệu chứng

55. 민감/취약계층 Tầng lớp nhạy cảm/ yếu

56. 밀접한 접촉 Tiếp xúc gần

57. 바가지 가격 Giá cắt cổ

58. 바이러스 돌연변이 Đột biến thể của virut

59. 바이러스 변이 Biến thể của virut

60. 바이러스 보균자 Người có mang virut

61. 바이러스 분리 Tách virut

62. 바이러스 집단 Nhóm vi rút

63. 바이러스성 폐렴 Viêm phổi có tính lây nhiễm

64. 박쥐 Dơi

65. 발병 Phát bệnh

66. 발병률 Tỷ lệ phát bệnh

67. 발열하다 Sốt

68. 발열환자 Bệnh nhân bị sốt

69. 방역 작업 Công tác chống dịch

70. 방호복 Quần áo bảo hộ

71. 방호안경 Kính bảo hộ

72. 백신 Vaccin

73. 변종 Biến thể

74. 변종 Loại bệnh

75. 병리Bệnh lý

76. 병원내/원내 감염 Lây nhiễm trong bệnh viện

77. 보건기구 Cơ quan y tế

78. 봉쇄하다 Phong tỏa

79. 사람 간/인간 간 전염 Truyền nhiễm giữa người với người

80. 사람이 많은 장소 피하기 Tránh nơi đông người

81. 사망률 Tỷ lệ tử vong

82. 사망자 Người tử vong

83. 사향고양이 Chồn

84. 설사 Tiêu chảy

85. 세계보건기구(WHO) Tổ chức y tế thế giới

86. 소독 Khử trùng

87. 소독약 Thuốc khử trùng

88. 소독티슈 Khăn khử trùng

89. 소화기 계통/소화기계 Hệ thống tiêu hóa

90. 손 소독 Khử trùng tay

91. 손 자주 씻기/꼼꼼하게 씻기 Rửa tay thường xuyên/ rửa tay kỹ

92. 손씻기를 자주하다 Rửa tay thường xuyên

93. 수산물 시장 Chợ hải sản

94. 숨가쁨 Thở gấp

95. 슈퍼 전파자 Người siêu truyền bệnh

96. 시내버스 운행 축소 Giảm bớt việc vận hành xe buýt trong thành phố

97. 시약 Thử nghiệm

98. 식품 사재기 Tích trữ lương thực

99. 신경 계통/신경계 Hệ thống thần kinh

100. 신고하다 Khai báo

101. 신규 환자 Bệnh nhân mới

102. 신장 기능 Chức năng thận

103. 신종 코로나바이러스 Viru Corona thể mới

104. 심장 두근거림 Ngực đập thình thịch

105. 알코올 (함유) 손소독제 Chất khử trùng có cồn

106. 야생동물 고기 Thịt động vật hoang dã

107. 약국 Hiệu thuốc

108. 여행 제한 Hạn chế đi lại

109. 여행을 자제하다 Hạn chế đi lại

110. 역학/전염병학 Dịch học/ bệnh học truyền nhiễm

111. 열화상 카메라를 통한 체온 측정 Đo nhiệt độ thông qua camera hình ảnh nhiệt

112. 예방수칙 Nguyên tắc phòng chống

113. 예방책 Đối sách dự phòng

114. 오한 Ra mồ hôi lạnh

115. 완치되다 Được điểu trị khỏi hoàn toàn

116. 완치율 Tỷ lệ chữa khỏi hoàn toàn

117. 외출 자제 Hạn chế ra ngoài

118. 우한 폐렴 Viêm phổi Vũ hán

119. 원인불명 폐렴 Viêm phổi không rõ nguyên nhân

120. 유전자 구조 Cấu trúc di truyền

121. 응급병원Bệnh viện cấp cứu

122. 의료기관 Cơ quan y tế

123. 의료기관 Cơ quan y tế

124. 의료물자 부족 Thiếu vật tư y tế

125. 의료용 마스크 Khẩu trang y tế

126. 의료용 외과 마스크 Mặt nạ ngoại khoa dùng cho y tế

127. 의료종사자 Người hoạt động tình nguyện y tế

128. 의료지원 Hỗ trợ về y tế

129. 의료진 Đội ngũ y tế

130. 의심환자 Bệnh nhân bị nghi ngờ

131. 의심환자(의사환자) Bệnh nhân có nghi ngờ

132. 이상증상 있다 Có triệu chứng lạ

133. 인구 이동 통제 Hạn chế người dân di chuyển

134. 인플루엔자; 플루 Cúm

135. 일선 의료진 Đội ngũ y tế tuyến 1

136. 일용 필수품 Hàng sinh hoạt sử dụng 1 lần

137. 일회용 장갑 Găng tay dùng một lần

138. 임상 데이터 Dữ liệu lâm sàng

139. 임상증상 Triệu chứng lâm sàng

140. 자가격리 Tự cách ly ở nhà

141. 잠복기간 Thời gian ủ bệnh

142. 장거리 버스 운행 중단 Dừng vận hành các tuyến xe buýt đường dài

143. 저산소증 Triệu chứng thiếu oxy

144. 적외선 체온측정기 Thiết bị đo nhiệt độ hồng ngoại

145. 전염경로 Con đường lan truyền

146. 전염되다 Bị lây nhiễm

147. 전염병 발생 상황(현황) Tình hình bệnh dịch hiện nay

148. 전염병 방역 Phòng dịch

149. 전염병 확산 억제(방지) Hạn chế lây lan bệnh truyền nhiểm

150. 전염병학 조사 Điều tra bệnh học về truyền nhiễm

151. 전염성 Có tính lây nhiễm

152. 전파경로 Con đường truyền nhiễm

153. 전파력 Khả năng lan truyền

154. 전파방식 Phương thức truyền nhiễm

155. 전파하다 Lan truyền

156. 접촉을 삼가다 Hạn chế tiếp xúc

157. 접촉자 추적 Truy tìm người đã tiếp xúc

158. 조기 발견, 조기 격리 Phát hiện sớm và cách ly sớm

159. 중국인 관광객 Khách du lịch người Trung Quốc

160. 사망자 발생 Phát sinh người tử vong

161. 추가발생하다 Phát sinh thêm

162. 중증 Triệu chứng nặng

163. 중증 Triệu chứng nặng

164. 중증급성호흡증후군 Hội chứng hô hấp cấp tính

165. 중환자실(ICU) Phòng bệnh nhân nặng

166. 증상 Triệu chứng

167. 증상없다 Không có triệu chứng

168. 증상자 Người có triệu chứng

169. 증세 Triệu chứng

170. 지정병원 Bệnh viện chỉ định

171. 직업성 (감염병) 노출 Phơi nhiểm có tính nghề nghiệp

172. 진단 Chẩn đoán

173. 진단과 치료, 추적, 검사 Chẩn đoán, điều trị, truy xuất nguồn gốc, kiểm tra

174. 진단키트 Bộ kit chẩn đoán

175. 철저한 조사로 1명의 누락자도 생기지 않도록 한다 Điều tra triệt để nhằm tránh để sót 1 người

176. 체온 모니터링 Giám sát nhiệt độ cơ thể

177. 체온 측정 Đo nhiệt độ cơ thể

178. 최고형 Hình phạt cao nhất

179. 축소•은폐 보도 Giảm/ che giấu thông tin

180. 치명적이다 Có tính nguy hiểm chết người

181. 치사율 Tỷ lệ tử vong

182. 침방울 Nước miếng

183. 특별보상정책 CHính sách bồi thường đặc biệt

184. 폐농양 áp xe phổi

185. 항바이러스제 Thuốc kháng virut

186. 해열제 Thuốc hạ sốt

187. 해외 구매 Mua từ nước ngoài

188. 해외 단체관광 중단 Ngưng du lịch nhóm ra nước ngoài

189. 해외 여행력을 알리다 Thông báo lộ trình ở nước ngoài

190. 혈청진단 Chẩn đoán huyết thanh

191. 호흡곤란 Khó thở

192. 호흡기 증상 Các triệu chứng về đường hô hấp

193. 호흡기 질환 Bệnh về đường hô hấp

194. 호흡기관 Cơ quan hô hấp

195. 확산 속도 Tốc độ lây lan

196. 확산 차단 Ngăn chặn lây lan

197. 실내에 머무르도록 권고하다 Khuyến cáo ở trong nhà

198. 확진환자 Bệnh nhân nhiễm

199. 환자와 접촉하다 Tiếp xúc với bệnh nhân

200. 휴교 Nghỉ học

NGUỒN : HUY KHOA KANATA

Visa tìm việc D-10 (cũ)

Visa D-10 là visa dành cho những người đang muốn kiếm việc tại Hàn Quốc HOẶC thực tập ngắn hạn được trả lương tại một công ty Hàn Quốc HOẶC chuẩn bị nộp hồ sơ về sở hữu trí tuệ (intellectual property right) và mở công ty khởi nghiệp.


ĐÂY LÀ QUY ĐỊNH CŨ. ĐỌC BÀI MỚI TẠI ĐÂY.

Những người muốn kiếm việc tại Hàn Quốc có thể là người vừa tốt nghiệp tại một Cao đẳng(전문학사)/Đại học/Cao học tại Hàn Quốc, hoặc chuyển từ các loại visa đi làm (E-1 đến E-7) qua sau khi kết thúc hợp đồng với công ty cũ.

Với visa D-10, bạn có quyền lưu trú tại Hàn Quốc 6 tháng và được gia hạn với tổng thời gian tối đa là 2 năm. Trong thời gian có visa này, bạn sẽ không được làm việc chính thức (chấp nhận hình thức thử việc) và khi được một công ty/viên chấp nhận thì phải đổi ngay sang loại VISA tương ứng.

Lưu ý, riêng D-10 mà chuyển từ E-7-4 qua thì chỉ được cấp 3 tháng và gia hạn 1 với 3 tháng nữa.

❤❤❤ Nếu cảm thấy bài viết hữu ích, hãy bấm LIKE/THÍCH Facebook Hàn Quốc Ngày Nay và giới thiệu cho bạn bè, nhóm của mình về bài viết này.

❤ ãy tham gia nhóm Facebook Hàn Quốc Ngày Nay – Thông tin Hàn Quốc để dễ dàng tìm hiểu, thảo luận về visa và các vấn đề khác tại Hàn Quốc.

I. ĐIỀU KIỆN

1. Điều kiện chuyển visa sang D-10:

– Có mục đích tìm kiếm việc làm hoặc nghiên cứu trong dưới các dạng visa E-1, E-2, E-3, E-4, E-5, E-6, và E-7.
Đối với E-6, KHÔNG TÍNH VISA E-6-2 làm việc trong lĩnh vực giải trí người lớn (adult entertainment). Chỉ những nghệ sĩ, vận động viên thật sự mới được chấp nhận.

– Bạn đủ điều kiện cho mục C của visa D-8 Corporate Investor và chuẩn bị khởi nghiệp (business startup).

2. Thời gian lưu trú tối đa của D-10:

Các trường hợp sau đây được tối đa 2 năm D-10. Còn lại thì chỉ được 1 năm.

– Tốt nghiệp đại học trở lên TẠI HÀN QUỐC (국내대학 학사 이상 학위 취득자).

– Tốt nghiệp cao đẳng TẠI HÀN QUỐC (국내대학 전문학사) có điểm trung bình trên 2.5 hoặc có bằng kỹ thuật quốc gia (국가기술자격증).

– Có kinh nghiệm làm việc 1 năm trở lên tại các công ty trong danh sách FORTUNE’s Global 500.

– Tốt nghiệp các trường nằm trong Top 200 trên thế giới trong bản xếp hạng TIMES Higher World University Rankings.

– Người đã được cấp hoặc đang chờ xét duyệt Patent Right (특허권), Utility Model Right (실용신안권) hoặc Design Right (디자인권).

– Đạt 50 điểm trở lên trong bảng điểm dành cho Di trú khởi nghiệp (chúng tôi sẽ đưa lên sau).

II. HỒ SƠ THỦ TỤC

1. Đơn yêu cầu tổng hợp, có dán ảnh 3.5cm x4.5cm nền trắng, chụp trong 6 tháng trở lại. Download: .

2. Hộ chiếu: Bản gốc và bản photocopy.

3. Chứng minh thư người nước ngoài (Alien Registration Card – 외국인등록증) : Bản gốc và bản photocopy.

4. Kế hoạch tìm việc (구직활동계획서). Download tại đây: .

5. Bằng Cao đẳng/Đai học/Cao học ở Hàn Quốc NẾU CÓ.

6. Bảng điểm của bằng cấp ở mục 5 NẾU CÓ.

7. Chứng nhận nơi cư trú (거주숙소제공사실확인서). Download mẫu tại đây: . Có thể nộp hợp đồng nhà hoặc giấy xác nhận cư trú. Tuy nhiên, đọc kỹ bài Tránh bị phạt tiền khi gia hạn/chuyển đổi visa.

8. Giấy khám lao: Nếu đã từng nộp giấy khám lao 1 lần rồi thì không cần nộp nữa. Tham khảo: Yêu cầu nộp giấy khám lao khi gia hạn, chuyển đổi visa.

9. Lệ phí:
– Phí đổi VISA: 100,000 KRW
– Phí làm thẻ: 30,000 KRW
– Phí ship: 3,000 KRW

Tổng lệ phí là 133,000 KRW cho trường hợp nhận qua bưu điện hoặc 130,000 KRW nếu muốn nhận tại nơi đã đăng ký chuyển đổi.

III. GIA HẠN D-10:

Tham khảo thủ tục gia hạn D-10 tại bài viết Gia hạn visa D-10 và hỏi đáp

IV. CHÚ Ý

– Trong một số trường hợp, có yêu cầu thêm chứng minh tài chính cho giai đoạn bạn đang xin VISA D-10 sắp tới. Tốt nhất là nộp 1-2 triệu KRW vào tài khoản và ra ngân hàng xin giấy 입출금내역서. Đây là giấy chứng nhận danh sách các giao dịch ngân hàng (tối thiểu 3 tháng).

– Nếu bạn ĐÃ/SẮP TỐT NGHIỆP THẠC SĨ và có ý định xin VISA D-10 và sau đó chuyển sang VISA E-7 để làm việc thì bạn NÊN tham gia chương trình Hội nhập xã hội – KIIP. VISA E-7 bị giới hạn bới tỉ lệ nhân viên nước ngoài / nhân viên người Hàn nên nhiều công ty có thể muốn tuyển dụng NHƯNG không thể bảo lãnh VISA cho bạn. Nếu bạn hoàn thành lớp KIIP cấp 5 và đủ điểm cho VISA F-2 thì với xác nhận tuyển dụng của công ty, bạn có thể chuyển sang VISA cư trú F-2 thay vì E-7. Tìm hiểu về chương trình Hội nhập xã hội ở đây

V. Hỏi và đáp:

1. Hỏi: Visa D-2 tốt nghiệp xong có dễ chuyển sang D-10 không?
– Đáp: Visa D-2 tốt nghiệp xong thì chuyển sang D-10 cực kì dễ dàng với thủ tục có nêu ở trên.

2. Hỏi: Visa D-2 nếu chưa nhận bằng tốt nghiệp thì có thể chuyển sang D-10 không?
– Đáp: Bản thân admin của Hàn Quốc Ngày Nay đã từng chuyển sang D-10 từ D-2 ngay lúc chưa nhận bằng tốt nghiệp. Chỉ cần sử dụng giấy tờ chứng minh đã tốt nghiệp và đang chờ nhận bằng là được. Việc này rất cần thiết cho những ai muốn chuyển đổi visa sớm để về Việt Nam chơi hay có thời gian cư trú dài hơn để xin visa du lịch các nước khác.

3. Hỏi: Visa E-7 sau khi nghỉ làm ở công ty hoặc công ty không ký tiếp hợp đồng có dễ chuyển sang D-10 không?
– Đáp: Rất dễ dàng. Nếu bạn không vi phạm những lỗi nặng nề và bị Xuất nhập cảnh phát hiện như trên hợp đồng thì làm văn phòng nhưng thực tế thì làm như E-9 hoặc công ty gian dối trong việc khai báo số lượng người Hàn thì việc chuyển qua D-10 cực kỳ đơn giản. Tuy nhiên, nếu bạn không tốt nghiệp tại Hàn Quốc thì gần như chỉ được 1 năm để tìm việc. Các điều kiện khác (ngoài việc tốt nghiệp ở Hàn) để có 2 năm tìm việc là không đơn giản.

4. Hỏi: Visa D-10 có được phép đi làm không?
– Đáp: Visa D-10 KHÔNG được phép đi làm chính thức như các visa làm việc E-7 (hay E-1 đến E-6) NHƯNG được phép làm dưới dạng thử việc hay thực tập.

5. Hỏi: Visa D-10 có được phép làm thêm không?
– Đáp: Ngoài việc thực tập hay thử việc đã nói ở trên, D-10 không cho phép làm thêm. Văn phòng Xuất nhập cảnh sẽ có thể làm khó và không cho bạn gia hạn nếu PHÁT HIỆN ra bạn làm thêm trái phép. Thông thường Văn phòng Xuất nhập cảnh sẽ yêu cầu nộp Danh sách giao dịch ngân hàng và truy hỏi những khoản tiền ra vào bất thường và phát hiện việc làm thêm trái phép.

6. Hỏi: Nếu visa D-10 đi làm thêm và nhận lương ở một tài khoản ngân hàng và đi gia hạn với số tài khoản ngân hàng khác thì có an toàn không?
– Đáp: Thông thường, gia hạn D-10 không yêu cầu nộp Danh sách giao dịch ngân hàng nhưng Văn phòng Xuất nhập cảnh xác định bạn CÓ VẤN ĐỀ thì họ sẽ dễ dàng truy xuất về danh sách giao dịch của BẤT KỲ tài khoản ngân hàng nào bạn đã mở tại Hàn Quốc.

7. Hỏi: Visa D-10 có được về nước không?
– Đáp: Trong thời hạn 6 tháng của visa D-10, bạn có thể xuất cảnh rồi nhập cảnh Hàn Quốc thỏa mái. Nhưng hãy chú ý, nếu số ngày ở Hàn Quốc quá ít, chẳng hạn 6 tháng mà hết 4-5 tháng ở Việt Nam, thì KHÓ chứng minh mục đích tìm việc để gia hạn tiếp.

8. Hỏi: Visa D-10 có dễ gia hạn không?
– Đáp: Miễn trong thời gian tối đa mà D-10 cho phép, bạn đã tìm việc nhưng chưa được và có mục đích tiếp tục tìm việc thì việc gia hạn cũng rất dễ dàng. Nếu Văn phòng Xuất nhập cảnh làm khó và muốn hỏi kĩ về các trường hợp kiếm việc trong 6 tháng trước thì bạn có thể in sẵn email về trao đổi tìm việc hay business card của những đơn vị bạn đã đến phỏng vấn để chứng minh.

——————————————————–

❤❤❤ Nếu cảm thấy bài viết hữu ích, hãy bấm LIKE/THÍCH Facebook Hàn Quốc Ngày Nay và giới thiệu cho bạn bè, nhóm của mình về bài viết này.

❤ Hãy tham gia nhóm Facebook Hàn Quốc Ngày Nay – Thông tin Hàn Quốc để dễ dàng tìm hiểu, thảo luận về visa và các vấn đề khác tại Hàn Quốc.

❤ Ủng hộ Phở FAN Seoul là ủng hộ Hàn Quốc Ngày Nay.

Lưu ý khi đăng ký xin visa Hàn Quốc

  1.  Lưu ý khi điền đơn xin cấp visa

–  Người đăng ký cần điền đầy đủ các thông tin trên Đơn xin cấp visa, vui lòng tham khảo nội dung hướng dẫn điền đơn xin cấp visa trên website của trung tâm.

–  Đặc biệt, mục số 6. 직업(EMPLOYMENT) liên quan đến chức vụ (POSITION), địa chỉ công ty (ADDRESS OF COMPANY), số điện thoại (TELEPHONE NO.) và mục số 7. 방문정보(DETAILS OF VISIT) mục đích nhập cảnh (PURPOSE OF VISIT TO KOREA), thời gian lưu trú dự kiến (INTENDED PERIOD OF STAY) cần phải điền đầy đủ và chính xác.

  • Hiệu lực của visa ngắn hạn ( single visa)

Visa ngắn hạn có hiệu lực trong vòng 3 tháng kể từ ngày cấp visa. Trong khoảng thời gian 3 tháng nếu không nhập cảnh vào Hàn Quốc thì visa sẽ hết hiệu lực. Nếu quý khách có dự định nhập cảnh vào Hàn Quốc ví dụ như du lịch,.. vui lòng xem xét thời hạn visa và thời gian xử lý hồ sơ ( tại thông báo mục 18. Thời gian xử lý các loại hồ sơ xin visa) để tính toán thời gian nộp hồ sơ hợp lý.

  •  Lưu ý khi nộp thiếu hồ sơ

–  Khi xin visa nếu thiếu giấy tờ người đăng ký cần bổ sung giấy tờ trong thời gian sớm nhất (Visa thương mại phải bổ sung giấy tờ trong vòng 2 ngày) tại Trung tâm visa Hàn Quốc.

–  Trong trường hợp không bổ sung được đầy đủ giấy tờ trong vòng 2 ngày thì có thể sẽ gặp bất lợi trong quá trình xét duyệt hồ sơ.

  •  Lưu ý khi xin visa 5 năm đại đô thị

–   Trường hợp đăng ký visa 5 năm đại đô thị bắt buộc phải đăng ký online trước.

–   Có thể đăng ký online trên website của trung tâm hoặc qua phần mềm trên điện thoại di động với tên “visaforkorea”.

–   Không chấp nhận đối với trường hợp chỉ có sổ tạm trú.

Chỉ chấp nhận trường hợp có hộ khẩu tại các thành phố lớn Hà Nội/ Đà Nẵng/ Tp Hồ Chí Minh trên 1 năm.

–  Chỉ trường hợp chứng minh được quan hệ gia đình mới có thể nộp hộ hồ sơ.

–  Trường hợp đến nộp hồ sơ muộn khi đã quá giờ hẹn trước cần kiểm tra thông tin phiếu hẹn sau đó lấy số chờ và đợi đến lượt để nộp hồ sơ.

–  Trường hợp xin visa 5 năm bắt buộc nộp thêm giấy tờ chứng minh nghề nghiệp.

  •  Lưu ý khi đến nhận kết quả

–  Khi đến nhận kết quả cần mang theo Chứng minh thư (bản gốc) và Giấy hẹn (bản gốc).

–  Trường hợp đến nhận hộ kết quả cần mang theo giấy tờ chứng minh quan hệ như Giấy khai sinh, Giấy đăng ký kết hôn, Hộ khẩu, Hợp đồng lao động (đối với visa thương mại),… trường hợp có Giấy ủy quyền cần có xác nhận của địa phương. Cần mang giấy tờ bản gốc để đối chiếu.

–  Khi đến nhận kết quả cần lấy số tại phòng chờ.

–  Trường hợp mất phiếu hẹn cần mang theo giấy tờ tùy thân. (bao gồm tin nhắn thông báo có kết quả từ trung tâm).

6.  Lưu ý về hồ sơ cần thiết và trường hợp nộp hộ

–  Đối với mỗi loại visa (tùy theo mục đích nhập cảnh) có các yêu cầu về hồ sơ giấy tờ khác nhau, cần chuẩn bị đầy đủ theo hướng dẫn về hồ sơ cần thiết khi xin visa.

–  Ngoại trừ trường hợp nộp hồ sơ thông qua các công ty du lịch, theo quy định người đăng ký xin visa cần trực tiếp đến trung tâm để nộp hồ sơ.

* Đối với visa thương mại, chỉ tiếp nhận trường hợp nộp hộ khi có thể chứng minh được quan hệ đồng nghiệp (Hợp đồng lao động). Đối với các loại visa khác chỉ tiếp nhận nộp hộ khi chứng minh được quan hệ gia đình ( Sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn, giấy khai sinh).

–  Trường hợp vì lý do bất khả kháng mà không thể đến nộp hồ sơ trực tiếp tại trung tâm vui lòng liên hệ trước với trung tâm để được hướng dẫn.

–  Trong quá trình xét duyệt hồ sơ, Lãnh Sự Quán có thể sẽ gọi điện thoại cho số điện thoại có trên đơn xin cấp visa để bổ sung hồ sơ hoặc xác nhận thêm vì vậy người đăng ký vui lòng chú ý điện thoại trong suốt quá trình xét duyệt hồ sơ.

7. Quy định về xử phạt các hành vi cản trở công vụ tại Đại sứ quán Hàn Quốc.

– Người có các hành vi gây áp lực thái quá hoặc mang tính chất bạo lực đối với nhân viên của Đại sứ quán như lăng mạ, sử dụng vũ lực, đe dọa hoặc ném đồ vật v.v có thể bị hạn chế cấp thị thực nhiều lần nhiều nhất là 3 năm.

– Ngoài ra, người trong quá trình xin cấp thị thực tường trình sai sự thật, nộp hồ sơ giả hoặc có hành vi ngụy tạo hồ sơ nếu bị phát hiện cũng có thể bị hạn chế cấp thị thực nhiều nhất là 3 năm.

– Người đăng ký xin thị thực ghi nhớ  các lưu ý trên và chú ý tuân thủ để tránh gặp phải trường hợp không mong muốn khi xin thị thực.

 *Quy định trên được áp dụng và có hiệu lực từ ngày 09/12/2019.

Bảng điểm E-7-4 áp dụng cho đợt 1 năm 2020

Đây là bảng điểm được áp dụng cho quý 1 năm 2020 về chuyển đổi từ visa lao động E-9, E-10 sang E-7-4.

Từ đợt 2 vào tháng 4/2020, bảng điểm mới được áp dụng như tại bài viết chính về E-7-4 tại Hàn Quốc Ngày Nay: hanquocngaynay.info/e7-4.

CHÚ Ý:

Tham khảo phần diễn dịch tiếng Việt tại bài tính điểm kiểu cũ, năm 2019 về trước: LINK

Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc tạm dời trụ sở

HIỆN NAY, ĐẠI SỨ QUÁN VIỆT NAM TẠI HÀN QUỐC đã làm việc tại trụ sở chính sau khi xây dựng xong.
Địa chỉ là: 서울 종로구 북촌로 123 주한베트남대사관 (삼청동 28-37). Bấm vào đây để mở bằng Naver Map/네이버지도.

——

Do liên quan đến việc xây dựng lại trụ sở, kể từ ngày 02/01/2020, Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc sẽ chuyển sang địa chỉ tạm thời tại:

Địa chỉ tiếng Anh: Tầng 5, Tòa nhà Mireco, 58 Jong-ro 5-gil, Jongno-gu, Seoul.

Địa chỉ tiếng Hàn: 서울특별시 종로구 수송동 80-6, 5층.

Địa chỉ mới rất trung tâm, cạnh quảng trường Gwanghwamun #광화문과장 và nằm giữa 3 ga tàu điện: Gwanghwamun # 광화문역, Jonggak #종각역, và Ankuk #안국역.

LƯU Ý:

  1. Trừ báo tử và 1 số trường hợp đặc biệt, bạn cần phải đặt lịch hẹn trước khi đến làm thủ tục lãnh sự ở ĐSQ. Đặt lịch hẹn online theo hướng dẫn tại đây.
  2. Trường hợp khẩn cấp liên quan đến bảo hộ công dân, xin liên lạc đường dây nóng BHCD: 010 2083 8286.

THÔNG BÁO CŨ:

Đại sứ quán sẽ không tiếp khách lãnh sự vào các ngày:

  • Thứ Sáu, ngày 27/12/2019;
  • Thứ Hai, ngày 30/12/2019;
  • Thứ Ba, ngày 31/12/2019.

Xin lưu ý: ĐSQ tạm thời đóng cửa từ 16 đến 22/3 vì lý do có 1 khách đến ĐSQ ngày 6/3 đã dương tính với virus Corona chủng mới.


❤❤❤ Nếu cảm thấy bài viết hữu ích, hãy bấm LIKE/THÍCH Facebook Hàn Quốc Ngày Nay và giới thiệu cho bạn bè, nhóm của mình về bài viết này.

❤ Hãy tham gia nhóm Facebook Hàn Quốc Ngày Nay – Thông tin Hàn Quốc để tìm hiểu, thảo luận về visa và các vấn đề khác tại Hàn Quốc.

Kỳ tích đường cao tốc Gyeongbu – cao tốc làm bằng ý chí người Hàn Quốc

Vào ngày 7 tháng 7 năm 1970, tuyến đường cao tốc Gyeongbu nối thủ đô Seoul và thành phố Busan chính thức được khai thông. Tuyến đường cao tốc đầu tiên của Hàn Quốc được hoàn thành sau những nỗ lực thông núi và bắc cầu qua sông trong suốt hai năm năm tháng. Tuyến đường cao tốc Gyeongbu dài 428km nối liền lãnh thổ Hàn Quốc từ Bắc vào Nam đã giúp thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và đưa nền kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng mạnh mẽ.

Đường cao tốc Gyeongbu hoàn thành năm 1970



Đến giữa những năm 1960, cơ sở hạ tầng giao thông của Hàn Quốc rất lạc hậu do hậu quả của cuộc chiến tranh Triều Tiên. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng về tình hình phát triển đường bộ được công bố vào năm 1966, bình quân độ dài đường trên đầu người ở Hàn Quốc chỉ là 1,1m, trong khi ở Mỹ là 31,5m và ở Nhật Bản là 10,2m. Ngoài ra, diện tích đường được lát chỉ chiếm 5,1% toàn bộ diện tích đường nói chung. Tình trạng này đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng một tuyến đường cao tốc mới. Tiến sĩ Cheon Kyu-seung thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc giải thích: “Kế hoạch phát triển kinh tế năm năm lần thứ nhất được tiến hành từ năm 1962 đã đưa tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hàng năm của Hàn Quốc khi đó lên đến 8%. Hàng hóa được chuyên chở qua tuyến tàu Gyeongbu từ Seoul đến Busan tăng gần 40%, số chuyến tàu cũng tăng hơn 80%. Theo đó, vận tải hàng hóa trở thành một thách thức lớn đối với Hàn Quốc. Nói cách khác, giải quyết được vấn đề này là then chốt để tạo bước nhảy vọt về kinh tế. Trong bối cảnh đó, Tổng thống Hàn Quốc đã đến thăm một số quốc gia phát triển như Đức, và đặc biệt sau khi tận mắt chứng kiến hệ thống đường cao tốc Autobahn của Đức, ông đã nhận thấy rõ sự cần thiết phải xây dựng hệ thống đường cao tốc để làm nền tảng phát triển công nghiệp.”

Hàn Quốc thập niên 1960-1970 còn khá thưa thớt phương tiện giao thông



Sau khi Chính phủ quyết định xây tuyến cao tốc Gyeongbu vào đầu năm 1967, thì tháng 12 năm đó, đoàn khảo sát thiết kế xây dựng cũng được thành lập. Năm sau đó, Chính phủ đã thành lập thêm Văn phòng công trình xây dựng tuyến cao tốc Gyeongbu và tích cực xúc tiến dự án trọng điểm này.

[Dư luận phản đối quyết liệt dự án đường cao tốc]Tuy nhiên, kế hoạch xây dựng đường cao tốc Gyeongbu đã vấp phải nhiều khó khăn ngay từ giai đoạn đầu. Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển (IBRD) đã có ý kiến phản đối sau khi điều tra tính khả thi của công trình tuyến cao tốc Bắc-Nam này. Ông Bae In-cheol đến từ Viện nghiên cứu đường bộ và giao thông thuộc Tổng công ty đường bộ Hàn Quốc cho biết: “Ngân hàng quốc tế tái thiết và phát triển là tiền thân của Ngân hàng thế giới (WB) ngày nay. Họ đã đưa ra một báo cáo cho rằng tuyến Gyeongbu được xây dựng trong thời kỳ đế quốc Nhật chiếm đóng bán đảo Hàn Quốc, từng đóng vai trò quan trọng về vận tải hàng hóa,giờ đây đã xuống cấp và lạc hậu nhiều. Do vậy cần thiết phải xây dựng một tuyến đường cao tốc mới ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, họ lại đề xuất xây dựng tuyến đường nối từ Đông sang Tây, cụ thể là nối từ Seoul đến Gangneung (tỉnh Gangwon) và từ Gwangju (tỉnh Nam Jeolla) đến Pohang (tỉnh Bắc Gyeongsang) để hướng ra cảng.”

Việc công bố kế hoạch xây dựng tuyến cao tốc Gyeongbu cũng khuấy động dư luận. Đặc biệt, đảng đối lập và một số báo chí đã chỉ trích kế hoạch này. Tiến sĩ Cheon Kyu-seung cho biết:“Những ý kiến phản đối hầu hết đều xoay quanh câu hỏi tại sao phải xây dựng tuyến đường này và tiền đâu mà xây. Nếu trải đường Gyeongbu sẽ gây ra sự mất cân bằng giữa các khu vực. Ngoài ra, người ta cho rằng nếu có tiền để trải đường thì trước mắt nên dùng đồng tiền để cứu các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cung cấp nông thủy sản một cách ổn định cho người dân. Cũng có ý kiến rằng đường bình thường mà chúng ta còn chưa có, nói gì đến đường cao tốc. Để xây dựng đường cao tốc thì trước tiên phải xây dựng những con đường giao thông bình thường trước đã.”

Tuyến cao tốc Gyeongbu nối liền thủ đô Seoul với Busan



[Hoàn thành tuyến cao tốc với bàn tay trắng và ý chí kiên cường]Mặc dù vấp phải sự phản đối của dư luận trong nước, nhưng ngày 1/2/1968, Chính phủ vẫn bắt tay vào thi công tuyến đường Gyeongbu, bắt đầu từ đoạn nối Seoul đến Suwon (tỉnh Gyeonggi). Toàn bộ tuyến cao tốc Gyeongbu được chia thành bảy đoạn đường và có sự tham gia của 16 công ty xây dựng hàng đầu trong nước để tạo nên tuyến huyết mạch của quốc gia. Từ lúc khởi công cho đến khi hoàn thành, có đến gần 8,93 triệu người, bao gồm cả người dân, binh lính và giám sát quản lý, tham gia vào công cuộc xây dựng. Vào thời điểm đó, người tham gia hầu như không được trang bị các thiết bị kỹ thuật cao nào, mọi thứ chủ yếu được làm bằng tay. Ông Oh Gyo-tak, một trong những người đã từng làm việc tại công trường xây dựng tuyến đường cao tốc Gyeongbu, kể lại:“Lúc đó máy móc không phát triển như bây giờ nên chúng tôi hầu như phải làm mọi công đoạn bằng tay. Chẳng hạn, công đoạn thi công làm đường thoát nước thì dùng xi măng. Và ngay cả việc nhào trộn xi măng cũng chẳng có lấy một cái máy nào cả. Nói chung rất là cực. Bây giờ người ta đâu ai nhào trộn nổi xi măng bằng tay đâu, dù cho có được trả tiền đi chăng nữa, thì cũng chẳng ai muốn làm. Thêm vào đó, lúc đó thời gian gấp rút nên chúng tôi phải tranh thủ làm việc cả trong đêm. Bây giờ thì chỉ làm có tám tiếng một ngày, chứ hồi đó chúng tôi phải làm từ sáng sớm cho đến khi mặt trời lặn thì mới được nhận tiền lương theo ngày.”

Sau khoảng một năm sáu tháng thi công, tuyến cao tốc Gyeongbu đã dần hình thành. Đến tháng 12 năm 1969, năm trong tổng số bảy đoạn đường đã chính thức được khai thông. Tuy nhiên, kế hoạch hoàn thành tuyến đường sẽ không bị kéo dài ra nếu không gặp phải một trở ngại, đó là việc đào đường hầm Dangjae ở Okcheon thuộc tỉnh Bắc Chungcheong. Ông Shim Wan-sik, người từng là quản đốc công trình xây dựng đoạn đường hầm này, vẫn còn nhớ như in không khí khi đó dù hàng thập kỷ đã trôi qua: “Đường hầm có tổng chiều dài khoảng 500m. Khu vực này được cấu tạo chủ yếu từ đá phiến ma và đá trầm tích, và khối đất đá này kéo dài thông ra khu vực thung lũng, vì vậy mà đã có nhiều vụ tai nạn sập hầm xảy ra. Chỉ riêng với khu vực thi công này đã cướp đi mạng sống của 11 công nhân. Lẽ ra theo kế hoạch thì đến cuối tháng 6 năm 1970, công trình phải được hoàn thành, nhưng đến tháng 4 năm đó thì tiến độ thi công mới chỉ đạt chưa tới 70%. Bởi vậy mà rất khó để kết thúc đúng tiến độ.”

Các công nhân tại đây phải làm luân phiên ba ca một ngày, và mỗi nhóm mỗi ngày đào được khoảng 2m đường hầm. Ông Shim Wan-sik kể tiếp: “Tuy công việc rất nặng nhọc, nhưng công nhân chúng tôi chỉ được trang bị ở mức tối thiểu, và vì không có máy móc nên sử dụng sức người là chính. Cũng bởi vậy mà công việc mất rất nhiều thời gian và năng suất cũng không cao. Vì vậy, chúng tôi đã chia ra mỗi ngày ba ca, cứ một ca là tám tiếng đồng hồ. Chúng tôi khi đó phải rất cố gắng và kiên trì. Công đoạn cuối cùng là đổ bê tông để xây dựng tường hầm, nhưng phải mất bảy ngày để đổ bê tông và làm khô. Tuy nhiên, do thời gian gấp gáp nên không thể hoàn thành kịp đoạn cuối này. Vì vậy, các nhà máy xi măng ở Danyang được lệnh sản xuất xi măng có độ bền cao, có thể khô nhanh chóng và chắc hơn. Và chuyển xi măng này bằng xe tải chứ không phải tàu hỏa để cắt giảm thời gian vận chuyển. Cứ như vậy đến đêm ngày 27 tháng 6 năm 1970, đường hầm Dangjae của tuyến cao tốc Gyeongbu đã chính thức được khai thông.”

Nhờ sự cố gắng kiên gan, bền bỉ của các công nhân mà đường hầm Dangjae cuối cùng đã được hoàn thành. Như vậy, tuyến đường cao tốc nối Seoul với tỉnh Gyeonggi, Chungcheong, Gyeongsang và Busan đã được hình thành sau hai năm năm tháng, khiến việc đi lại thuận tiện hơn nhiều. “Trong hai năm và năm tháng, các công nhân Hàn Quốc đã làm được tổng cộng 428km đường. Nếu so với các tuyến cao tốc lúc bấy giờ của các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản, thì thời gian thi công tuyến đường này được coi là ít nhất và chi phí cũng thấp nhất khi chỉ mất gần 43 tỷ won. Toàn tuyến có 317 cây cầu với tổng chiều dài gần 17km, sáu đường hầm dài gần 4km, 19 nút giao cắt và 468 cầu vượt. Số lượng trang thiết bị được huy động là khoảng 1,65 triệu.”

Người Hàn Quốc ăn mừng trong ngày mở cửa cao tốc Gyeongbu



Theo lời giải thích của ông Bae In-cheol thuộc Viện nghiên cứu đường bộ và giao thông, thì mặc dù Hàn Quốc khi đó không có công nghệ cao cũng như kinh nghiệm xây dựng, nhưng nhờ ý chí kiên cường và quyết tâm, cuối cùng vẫn có thể hoàn thành tuyến đường cao tốc với những kỷ lục kinh ngạc. Tuyến đường 428km được thi công chỉ trong hai năm năm tháng có nghĩa là cứ hai ngày đã trải được 1km đường. Đặc biệt, chi phí cho mỗi km đường chỉ vào khoảng 100 triệu won trong khi đó, Nhật Bản cũng đã hoàn thành tuyến đường cao tốc Tomei nối Tokyo với Nakoya vào năm 1968 với chi phí cao gấp tám lần, lên tới 800 triệu won cho mỗi km đường thi công. Có thể nói Gyeongbu là tuyến đường cao tốc có chi phí thi công thấp nhất trong lịch sử xây dựng đường cao tốc trên thế giới.

[Mở ra thời đại đi dọc theo đất nước chỉ trong một ngày]Tuyến đường cao tốc Gyeongbu đã làm thay đổi bộ mặt đời sống của người dân Hàn Quốc. Nhờ vậy, người dân giờ đây đã có thể dễ dàng đi từ đầu này đến đầu kia của đất nước chỉ trong một ngày. Tiến sĩ Cheon Kyu-seung thuộc Viện Phát triển Hàn Quốc nói: “Trước đây, đi từ Seoul đến Busan bằng ô tô phải mất tới 15 tiếng và bằng tàu hỏa đi mất chín tiếng, thì bây giờ đi đường cao tốc này chỉ mất có bốn tiếng. Việc rút ngắn thời gian di chuyển giữa các vùng đã khiến cho cuộc sống của người dân trở nên dễ dàng, thuận lợi hơn.”

Không chỉ vậy, từ ngày có tuyến đường Gyeongbu, người ta chỉ mất gần nửa ngày để vận chuyển hải sản tươi sống đánh bắt ở thành phố cảng Busan lên thủ đô Seoul, cũng như từ đó vận chuyển đi khắp các tỉnh thành khác trong cả nước, rút ngắn khoảng cách giữa người nông dân và người tiêu dùng. Sau khi đường cao tốc được mở, thì dịch vụ xe khách nhanh cũng bắt đầu xuất hiện, thu hút nhiều người dân sử dụng. Cũng theo đó, nghề lái xe và tiếp viên xe khách trở thành một nghề nghiệp đáng mong ước thời đó. Một số người dân phát biểu như sau: “Sau khi khai thông đường cao tốc thì việc đi lại đã nhanh chóng hơn nhiều, vừa nhanh vừa tiện lợi giống như đi máy bay vậy. Tâm trạng tôi cũng như muốn bay theo vậy. Lúc đầu, tôi không thấy có gì đặc biệt cả. Nhưng khi chạy trên đường rồi thì trời ơi, sao mà nó lại có thể thoải mái như thế chứ. Lúc bấy giờ, tài xế xe khách cao tốc có cái uy giống như là phi công lái máy bay vậy. Các cô tiếp viên xe thì giải thích chi tiết về di tích và thắng cảnh mỗi lần xe chạy qua, làm cho tôi cảm giác như mình đang đi du lịch vậy.”

Mặt khác, khi có đường cao tốc, thì lượng xe lưu thông cũng tăng lên một cách nhanh chóng. Từ đó mở ra một thời đại của xe riêng ở Hàn Quốc. Ông Bae In-cheol nói:“Theo tài liệu thống kê, vào năm 1973, số xe lưu thông trên đường cao tốc vào khoảng 5.263 chiếc, trong đó có 641 xe hơi, 1.154 xe khách và 3.250 xe tải. Đến năm 2014, số lượng xe lưu thông trên đường cao tốc Gyeongbu đã lên tới gần 88.000 chiếc. Như vậy, số lượng xe đã tăng lên rất nhiều lần, trong đó lượng xe hơi là tăng nhiều nhất. Vào những năm 1990, số lượng đăng ký xe ô tô cũng tăng mạnh. Trong đó, xe hơi thông thường là 60.724 chiếc, xe khách là 4.249 chiếc, và xe tải tăng lên tới 23.026 chiếc.”

[Tuyến đường cao tốc đưa kinh tế Hàn Quốc tăng trưởng nhảy vọt]Với hai bàn tay trắng và đi lên từ đói nghèo, nhưng bằng ý chí kiên cường mà người dân Hàn Quốc đã làm nên kỳ tích, khi hoàn thành tuyến đường cao tốc Gyeongbu. Qua đó, kinh tế Hàn Quốc đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhảy vọt. Tiến sĩ Cheon Kyu-seung nhấn mạnh: “Sự phát triển của mạng lưới giao thông quốc gia đã thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành công nghiệp vận tải và ô tô. Bên cạnh đó, việc xây dựng đường cao tốc cũng giúp chúng ta tích lũy thêm kinh nghiệm cho ngành công nghiệp xây dựng của nước nhà, và biết cách sử dụng đất đai lãnh thổ một cách hiệu quả. Nó còn giúp phát triển các khu công nghiệp, qua đó đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, nền tảng của kinh tế. Việc hoàn thành công trình xây dựng đường cao tốc còn có ý nghĩa là đã cổ vũ khích lệ tinh thần nhân dân, thay đổi được ý thức của họ từ chỗ nghi ngờ, do dự chuyển sang quyết tâm và tự tin “Chúng ta có thể làm được”. Và đây cũng chính là điểm mấu chốt giúp cho Hàn Quốc đạt được sự phát triển thần kỳ, trở thành nền kinh tế đứng thứ 10 thế giới, một điều mà trước đây chúng ta khó có thể tưởng tượng nổi.”

Có thể nói, tuyến đường cao tốc Gyeongbu có ý nghĩa vô cùng to lớn với người dân Hàn Quốc. Nó là biểu tượng đầy tự hào cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thấm mồ hôi, máu và nước mắt của nhân dân. Trên cơ sở kinh nghiệm tích lũy từ việc xây dựng tuyến cao tốc đầu tiên này, đến nay Hàn Quốc đã có tổng cộng 33 tuyến đường cao tốc, với tổng chiều dài 4.139km. Nhờ đó, người dân đã có thể thoải mái đi từ đầu này đến đầu kia đất nước một cách nhanh chóng và tiện lợi nhất. Một lần nữa phải khẳng định rằng đường cao tốc Gyeongbu là một trong những kỳ tích trong lịch sử cận đại Hàn Quốc.

Danh sách 40 quận/huyện bị “cấm” lao động đi xuất khẩu tại Hàn Quốc năm 2019

Trong công văn Bộ Lao động Thương binh và Xã hội chính thức công bố và gửi đến UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về việc ngừng tiếp nhận lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo chương trình EPS vào năm 2019, có 100 quận/huyện có tỉ lệ lao động hết hạn hợp đồng không về nước trên 30% thuộc 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có số lao động cư trú bất hợp pháp cao nhất tại Hàn Quốc, thuộc diện đưa vào xem xét tạm dừng tuyển chọn trong năm 2019.

Tạm dừng tuyển chọn lao động trong năm 2019 đối với 40 quận/huyện có số lượng lao động cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc từ 60 người trở lên trong số 100 quận/huyện nêu trên.

Theo đó, các quận/huyện/thị xã/thành phố “cấm” đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc 2019 như sau:

Trong danh sách trên, huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương lần đầu vào danh sách. 5 huyện được tô màu xanh lơ ở trên đã ra khỏi danh sách năm 2018 nhưng năm nay lại quay lại.

Căn cứ thông báo của phía Hàn Quốc về số lượng và tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp vào thời điểm cuối năm 2019, sẽ tiếp tục tạm dừng tuyển chọn trong năm 2020 tại các địa phương không giảm được tỷ lệ lao động cư trú bất hợp pháp, đồng thời dỡ bỏ việc tạm dừng đối với những địa phương giảm được tỷ lệ và số lượng lao động cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.